Tải về bộ font chữ miễn phí khổng lồ từ Google

Nếu yêu thích các font của Google, bạn có thể sử dụng chúng ngay trong Office Word 2013/2010 chỉ bằng vài thao tác đơn giản sau đây.

Trước tiên, bạn truy cập vào kho Font của Google tại đây và tiến hành nhấn vào nút “Add to Collection” ở những font mình cần.


Sau khi đã chọn xong, bạn nhấn vào nút “Download” ở góc trên bên phải giao diện web.


Trang lựa chọn gói tập tin chứa các font sẽ xuất hiện, ở đây bạn hãy chọn định dạng .ZIP để dễ sử dụng.


Sau khi tải gói tập tin chứa các font mình cần về máy, bạn hãy tiến hành xả nén gói tập tin ra và lần lượt cài đặt (Install) chúng vào máy tính


Thế là xong, bây giờ bạn hãy mở Office Word 2013 hoặc 2010 lên và kiểm tra kết quả nhé.


Chúc bạn thành công.

Link gốc: http://genk.vn/thu-thuat/huong-dan-tai-ve-bo-font-chu-mien-phi-khong-lo-tu-google-20140627184940264.chn

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hồ Chủ tịch

 

Những bức ảnh rất đẹp về Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong thời kì kháng chiến.

Trước nhiều thời điểm lịch sử của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn bạc để đưa ra những quyết định trọng đại.

Lễ phong quân hàm cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời kỳ 1975 đến nay
1954 – 1975
trước 1954

Untitled-1-4005-1380944910.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong ngày 2/9/1945. Bức ảnh được chụp ngay sau khi Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. “Đúng lúc cụ Hồ và ông Giáp đã ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh, tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: Thưa cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh cụ. Xin cụ cho phép con được lấy một hình của cụ. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy, cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã về chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều: Thưa cụ, con muốn cụ hạ chiếc mũ xuống ạ. Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: Này thì bỏ mũ xuống”, nhiếp ảnh gia Võ An Ninh kể lại trong cuốn “Ở với Người – Ở với Đời”.

Untitled-10-1501-1380944910.jpg

Theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đã nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7/1945 để giúp đỡ huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật. Cụ Hồ và Tướng Giáp chụp chung với nhóm tình báo đặc biệt này.

Bác Hồ và Tướng Võ Nguyên Giáp tại vườn Bắc Bộ phủ cuối tháng 8/1945.

Cụ Hồ và Tướng Giáp tại vườn Bắc Bộ phủ cuối tháng 8/1945.

Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945.

Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp (đầu tiên, hàng trước) trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945.

Bữa cơm tại chân đèo Re (phía Định Hóa, Thái Nguyên tháng 10/1948) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lê Đức Thọ, trước ngày ông Lê Đức Thọ được cử vào Nam Bộ công tác

Tổng Bí thư Trường Chinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lê Đức Thọ ăn cơm tại chân đèo Re phía Định Hóa, Thái Nguyên vào tháng 10/1948.

Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại An toàn khu Định Hóa năm 1947.

Trên đường đi Chiến dịch Biên giới, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh (1950).

Trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Untitled-8-2272-1380944910.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp bàn bạc kế hoạch chiến dịch năm 1950.

Tại căn cứ Việt Bắc, Người và các đồng chí lãnh đạo Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1953.

Tại căn cứ Việt Bắc, Hồ Chủ tịch, Tướng Giáp và lãnh đạo Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1953.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Trước khi đại tướng lên đường, Chủ tịch  hỏi: "Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?", đại tướng  trả lời: "Thưa bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tướng quân tại  ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau". Khi chia tay, Chủ tịch chỉ thị: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh".

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước khi Đại tướng lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: “Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?”, Đại tướng trả lời: “Thưa Bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau”. Khi chia tay, Chủ tịch chỉ thị: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh”.

Điện Biên mừng sinh nhật Bác (19/5/1954).

Tướng Giáp cùng các chiến sĩ Điện Biên mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm 19/5/1954.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962

Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh chung trong dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962.

Untitled-2-4074-1380944911.jpg

Ngày 11/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (thứ hai từ bên phải) gặp đoàn đại biểu Anh hùng Chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang quân Giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc.

Tháng 4-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiếp các chiến sĩ lái máy bay chiến đấu đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ

Tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tướng Giáp tiếp các chiến sĩ lái máy bay chiến đấu đã bắn rơi nhiều phi cơ Mỹ.

Ảnh tư liệu của TTXVN

Theo: http://vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/dai-tuong-vo-nguyen-giap-voi-ho-chu-tich-2890528.html

10 bức ảnh đẹp ấn tượng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

“Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại sống ở Việt Nam. Ông được công nhận là một trong các nhà quân sự tài giỏi nhất và một nhà chiến lược về chiến tranh nhân dân”.

Đạo diễn người Pháp Daniel Roussel – nguyên là phóng viên thường trú báo tại Việt Nam những năm 1980 đã viết như vậy.

Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: “Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Theo

Xin được đăng lại 10 bức ảnh đẹp nhất của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp từ báo dantri.com.vn (Link gốc: http://dantri.com.vn/chinh-tri/10-buc-anh-dep-an-tuong-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-786551.htm)

Chuyện ít biết về số phận bi tráng của Quốc ca Việt Nam

(Dân trí) – Từ khi được đích thân Bác Hồ chọn cho đến năm 1955, Quốc ca giữ nguyên lời của bài Tiến quân ca. Sau năm 1955, Quốc hội mời nhạc sĩ Văn Cao tham gia sửa chữa một số chỗ về phần lời và trở thành bài Quốc ca như hiện nay.

Đích thân Bác Hồ chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân chọn Quốc ca cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 16/8/1945, trong dịp Đại hội Quốc dân đồng bào họp ở Tân Trào chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa. Giữa 3 ca khúc: Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Minh (sau đổi thành chiến sĩ Việt Nam) của nhạc sĩ Văn Cao và ca khúc Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi; Bác Hồ đã chọn Tiến quân ca.

Lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở đâu, lời Quốc ca vang lên đến đó (Ảnh tư liệu)

“Lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở đâu, lời Quốc ca vang lên đến đó” (Ảnh tư liệu)

“Bác nói rằng, lời bài Diệt phát xít ngắn gọn, dễ hát, dễ phổ cập, tuy nhiên chế độ phát xít đã tan rã, nếu lấy bài Diệt phát xít làm quốc ca sẽ không hợp thời. Bác nói, bác thích bài Chiến sĩ Việt Minh nhất, đặc biệt là đoạn cuối:…Hận thù bao năm căm lòng đất nước tan tác /Xương máu đang khơi ngòi/Tiếng than nơi nơi/Tháng năm dần trôi/Thề phục quốc. Tiến lên Việt Nam!/Lập quyền dân. Tiến lên Việt Nam!… Nhưng Bác không chọn ca khúc này làm Quốc ca vì cho rằng lời dài, khó hát. Bác còn nói vui rằng, nếu chọn ca khúc này làm Quốc ca để hát chào cờ thì nhân dân…đứng mỏi chân. Theo Bác, đưa Tiến quân ca trở thành Quốc ca là phù hợp nhất. Ca khúc thể hiện được ý chí, khát vọng của dân tộc lại gắn gọn, dễ thuộc lời, đầy đủ về ý nghĩa, giai điệu lại hùng tráng…”, nhà thơ, họa sĩ Văn Thao kể.

Dù không được chọn làm Quốc ca nhưng sau đó, Diệt phát xítChiến sĩ Việt Minh đều được yêu thích và phổ biến rộng rãi trong công chúng.

Con trai trưởng của cố nhạc sĩ tài hoa Văn Cao vẫn còn nhớ sự xúc động thật sự xen lẫn niềm hạnh phúc trên gương mặt người cha của mình khi Tiến quân ca vang lên mọi ngóc ngách đường phố cùng lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

Ông nhớ lại, ngày 2/9/1945, ca khúc Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi ban nhạc Giải phóng quân do nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên trao đổi với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ “Đoàn” và nốt mi ở giữa chữ “xác” giúp cho bản nhạc hào sảng hơn.

Từ khi được đích thân Bác Hồ chọn cho đến năm 1955, Quốc ca giữ nguyên lời của bài Tiến quân ca. Sau năm 1955, Quốc hội mời nhạc sĩ Văn Cao tham gia sửa chữa một số chỗ về phần lời và trở thành bài Quốc ca như hiện nay. Tuy nhiên, lúc sinh thời nhiều lần Văn Cao đã cảm thấy luyến tiếc vì một số chữ bị sửa đã làm vơi đi khí thế hào hùng của ca khúc.

“Văn Cao có khả năng tiên đoán, đi trước thời đại”

Nghệ sĩ Văn Thao cho biết, thuở nhỏ, nhiều lần ông được đấng sinh thành kể về hoàn cảnh ra đời ca khúc Quốc ca ngày nay. Nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác ca khúc này trên căn gác nhỏ ở phố Nguyễn Thượng Hiền vào khoảng tháng 10/1944. Trước đó, Văn Cao có gặp lại Vũ Quý, một cán bộ Việt Minh từng hoạt động tại Hải Phòng ở ga Hàng Cỏ. Khi rủ nhau đến quán cơm Văn Phú ở phố Lê Duẩn bây giờ, Vũ Quý đã khích lệ nhạc sĩ viết ca khúc khơi dậy lòng yêu nước cho thanh niên, học sinh…

Lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở đâu, lời Quốc ca vang lên đến đó (Ảnh tư liệu)

Không chỉ dự cảm về thành công của Cách mạng, cố nhạc sĩ tài hoa còn khẳng định giá trị lịch sử đúng đắn của ca khúc và có niềm tin vào ca khúc được lòng dân yêu mến

Trong cuốn hồi ký Tại sao tôi viết Tiến quân ca, nhạc sĩ Văn Cao cũng đã kể rằng: “Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em tôi đang đói. Họ đang tìm mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường ở phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi…”.

Chính hoàn cảnh đói khổ của người thân, của những sinh mạng leo lắt mà ông từng chứng kiến, cứ miên man như thế, một giai điệu trong ông bỗng dâng trào và hòa quyện cùng lời ca như bật ra:“Đoàn quân Việt Minh đi(sau này đổi là Đoàn quân Việt Nam đi)…

Cũng theo nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, người cha của ông có khả năng tiên đoán, đi trước thời đại ngay từ khi đặt bút viết Tiến quân ca. Năm 1944, thời điểm đó chỉ có lá cờ búa liềm, mãi đến năm 1945- Cách mạng tháng 8 thành công ra đời Quốc dân đồng bào mới chọn lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ. Vậy mà Văn Cao đã viết: “Đoàn quân Việt Minh đi/Sao vàng phấp phới/Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…”.

Không chỉ dự cảm về thành công của Cách mạng, cố nhạc sĩ tài hoa còn khẳng định giá trị lịch sử đúng đắn của ca khúc và có niềm tin vào ca khúc được lòng dân yêu mến. “Ông có lòng tin “đứa con tinh thần” của mình đã sống được gần 40 năm, nó đã khẳng định được sức sống, giá trị lịch sử của nó. Đã là lịch sử thì làm sao xóa được…”, Văn Thao nhớ lại lời khẳng định của người cha kính yêu ở những năm 80- khi lần đầu tiên Quốc ca đứng trước nguy cơ bị thay thế.

Số phận thăng trầm của tuyệt phẩm đi vào lòng dân

Nhìn lại ca khúc gắn liền với chiều dài lịch sử, tài sản tinh thần thiêng liêng của người cha quá cố; người con trai nhạc sĩ giờ cũng đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy trầm tư khi điểm lại những thăng trầm, sóng gió mà số phận Quốc ca từng trải qua.

“Chưa nói về chuyện có người tự nhận là đồng tác giả của Tiến quân ca, gần 70 năm kể từ khi ra đời, ca khúc đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm, không ít lần bị nhăm nhe thay thế hoặc sửa lời…”, nghệ sĩ Văn Thao trầm tư.

Gần 70 năm kể từ khi ra đời, Quốc ca Việt Nam đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm

Gần 70 năm kể từ khi ra đời, Quốc ca Việt Nam đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm

Năm 1981, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dự định thay đổi Quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không công bố kết quả. Nhớ lại, Văn Thao cho biết thời điểm đó cha của ông đã rất buồn khi “đứa con tinh thần” của mình bị phủ nhận…

“Không chỉ đến những năm 80, mà trước đó đã có cá nhân đề cập việc đổi Quốc ca với Bác Hồ. Bác đã nói, sao các chú lại bàn chuyện đổi Quốc ca ở đây? Lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở đâu, lời Quốc ca vang lên đến đó. Nếu các chú muốn xóa lá cờ đỏ sao vàng, xóa cách mạng thì hãy tính tới chuyện đổi Quốc ca”, nhà thơ, họa sĩ Văn Thao nói.

Và gần đây nhất, ý kiến của một đại biểu quốc hội cho rằng cần sửa lại một số ca từ không còn phù hợp trong Quốc ca như “Đường vinh quang xây xác quân thù” lại làm dấy lên nhiều luồng ý kiến về việc có nên hay không nên sửa lời Quốc ca? Trước thông tin này, nhà thơ, họa sĩ Văn Thao cho biết đó chỉ là ý kiến của một cá nhân và gia đình ông không có ý kiến gì.

Con trai trưởng của tác giả ca khúc Quốc ca chỉ chia sẻ: “Đối với nhiều người thì Quốc ca đã đi vào lịch sử, đi vào lòng dân và là hồn của đất nước, mà đã là lịch sử thì không thể sửa hoặc thay đổi. Và lời Bác Hồ vẫn còn đó…”.

Nguyễn Hằng

bởi hoana2007 từ: http://dantri.com.vn/van-hoa/chuyen-it-biet-ve-so-phan-bi-trang-cua-quoc-ca-viet-nam-773993.htm

Ý nghĩa lịch sử của Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam

“Tiến quân ca” cùng với lá cờ đỏ sao vàng đã đi cùng với lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam suốt gần 70 năm qua. Bài viết sau đây sẽ phần nào giúp các bạn hiểu thêm về nguồn gốc, cũng như giá trị lịch sử của Quốc ca, Quốc kỳ nước ta.

Ảnh minh họa

Cờ Tổ quốc tung bay trên biển đảo của Việt Nam

Nhạc sĩ Văn Cao đã sống những năm cuối đời tại một căn gác nhỏ trên phố Yết Kiêu, Hà Nội. Tại đây, người thân của ông vẫn đang lưu giữ những kỷ vật về người nhạc sĩ tài hoa, trong đó có bài “Tiến quân ca” được cất giữ như một báu vật của gia đình. 
Tham gia Việt Minh, nhiệm vụ của Văn Cao là viết một ca khúc để cổ vũ tinh thần cho đội quân cách mạng. Và “Tiến quân ca” đã ra đời vào năm 1944 và được in trên báo Độc lập do chính tác giả tự khắc bản nhạc lên phiến đá để in báo. Ngày 13/8/1945 trước khi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nhạc sĩ Văn Thao – Con trai cả của cố nhạc sĩ Văn Cao kể lại: “Ông đã nhìn thấy năm đó là năm nạn đói người chết rất nhiều, hàng ngày những xe bò đi thu nhặt xác chết và ông có một cảm xúc, một sự khơi dậy trong tình cảm, lòng căm thù vì sao mà lại có những cái cảnh này xảy ra trên đất nước mình. Vì thế, ông nghĩ là phải có một bài hát nào đó thúc giục chúng ta đứng lên”.
Còn tại một căn nhà nhỏ khác ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, Hà Nam cũng đang lưu giữ kỷ vật về một con người – ông Nguyễn Hữu Tiến, người được cho là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Kỷ vật ấy là bức tranh ông Tiến phác thảo lá cờ do nhạc sỹ Văn Cao vẽ tặng.
Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.
68 năm trước, ngày 17/8/1945, Tiến quân ca được cất lên giữa biển người cùng lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn lần đầu tiên xuất hiện trước cửa nhà hát lớn khi diễn ra cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, để rồi và 2 ngày sau đó (ngày Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội), Tiến quân ca cùng cả rừng cờ đỏ xuống đường vào cái ngày đã đi vào lịch sử với tên gọi “Cách mạng tháng Tám”.
Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca cùng cờ đỏ sao vàng hãnh diện tung bay trong ngày Bác Hồ bố cáo trước toàn thể quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn một năm sau, trong Điều 3 của bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca.
PGS.TS. Phạm Xanh – Nhà nghiên cứu Lịch sử cho biết: “Màu đỏ của lá cờ là màu của cách mạng. Chúng ta giành lấy nền độc lập và giữ nền độc lập bằng máu của nhiều thế hệ dân tộc chúng ta. Ngôi sao vàng là màu của chủng tộc, chủng tộc da vàng, còn 5 cánh của ngôi sao là tựu chung cho sự đoàn kết của dân tộc của 5 lớp người: sĩ, nông, công, thương, binh. Và sự quy tụ đó là của khối đại đoàn kết dân tộc. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 1 năm 1946 trước đó có một số phần tử muốn thay Quốc kỳ nhưng cụ Hồ đã nói một lời kiên quyết trong kỳ họp thứ 2 đó rằng quyền đó không phải là quyền của Quốc hội mà là quyền của 25 triệu người dân Việt Nam. Chỉ khi 25 triệu người dân Việt Nam quyết định thay lá cờ, thay quốc ca thì Quốc hội mới có quyền thay”.
Và sau khi đất nước được thống nhất, mặc dù trong các bản Hiến pháp năm 1959 và 1980 chỉ quy định rõ Quốc kỳ mà không quy định rõ về Quốc ca, nhưng trong phiên họp Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất vào năm 1976, nhạc và lời của bài Tiến quân ca vẫn được Quốc hội quyết định là Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
68 năm kể từ ngày nước Việt Nam có Quốc ca và Quốc kỳ, bài Tiến quân ca và lá cờ đỏ sao vàng đã đi cùng với dặm đường trường chinh dân tộc Việt Nam. Và gần đây, dù có một vài ý kiến đề nghị thay đổi lời của bài Quốc ca, nhưng lời của bài Tiến quân ca thúc giục người Việt Nam tiến lên vì Tổ quốc và lá cờ đỏ sao vàng “in máu chiến thắng mang hồn nước” vẫn tiếp tục được quy định trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 giống như bản Hiến pháp hiện hành.

Bởi hoana2007 từ: http://vnmedia.vn/VN/van-hoa/tin-tuc/58_1613913/y_nghia_lich_su_cua_quoc_ky_va_quoc_ca_viet_nam.html

Lịch sử hơn 600 năm của tiền giấy Việt Nam

Đồng tiền giấy đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Việt Nam là “Thông bảo hội sao” (1396) do Hồ Quí Ly phát hành. Hơn 6 thế kỷ sau, tiền giấy ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống, kinh tế Việt Nam.

Thông bảo hội sao…

Thời phong kiến, mỗi triều đại thường cho đúc một loại tiền riêng, bao gồm tiền đồng, tiền kẽm, tiền sắt và cả một số loại tiền giấy như: “Thái bình thông bảo” thời nhà Đinh và “Thiên phúc trấn bảo” thời Tiền Lê.

Tuy nhiên, một loại tiền nổi tiềng “Thông bảo hội sao” – đây là loại tiền giấy đầu tiên do nhà Hồ phát hành vào năm 1396. Đó là một thời điểm rất sớm so với lịch sử tiền giấy nhưng lúc đó, chính sách ban hành tiền giấy không hề được đánh giá là tiến bộ.

Khi in xong, nhà Hồ hạ lệnh cho người đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1 quan 2 tiền. Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và tiêu riêng. Ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản vào nhà nước.

Như vậy, đồng tiền giấy này đã được đưa vào trong lưu thông một cách triệt để. Cách phát hành tiền là đổi hoàn toàn tiền cũ lấy tiền mới, nên về lí thuyết nó không ảnh hưởng gì tới giá trị đồng tiền mà thậm chí đó là một tư tưởng tiến bộ giúp tiết kiệm kim loại và sử dụng tiền thuận tiện hơn.

Tuy nhiên, để tiền giấy ra đời và đi vào đời sống thực tế phải có những tiền đề kinh tế xã hội, phù hợp… Với một thực tế lịch sử chưa cho phép, chính sách tiền giấy của Hồ Quý Ly đã thất bại.

Thời kỳ Việt Nam là một phần Đông Dương thuộc Pháp. Đơn vị tiền tệ cả khu vực là Piastre, thường gọi là “bạc”. Lúc đầu có đồng bạc Mexico nặng 27,73 gam, sau đó có đồng bạc Đông Dương nặng 27 gam.

Ngân hàng Đông Dương cũng phát hành cả tiền giấy, đó là tờ tiền giấy in hình 3 thiếu nữ với những bộ trang phục truyền thống của 3 nước

Những đợt đổi tiền thời hiện đại

Kể từ ngày 1/12/1945, khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phát hành đồng tiền đầu tiên là đồng tiền nhôm loại 2 hào, cho đến nay chúng ta đã có rất nhiều các loại tiền xu, tiền giấy, tiền polime khác nhau.

Lịch sử hơn 600 năm của tiền giấy Việt Nam

Đi cùng lịch sử phát hành tiền là những lần chúng ta thực hiện đổi tiền, có thể tổng kết những lần đổi tiền từ sau Cách Mạng Tháng Tám cho đến nay như sau:

Lần thứ nhất vào ngày 15/5/1947, Chính phủ ra sắc lệnh 48/ SL cho phép lưu hành trong cả nước giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng. Đồng thời nhà nước thực hiện thu đổi đồng bạc Đông Dương, tỷ lệ 1 đồng Việt Nam lấy 1 đồng bạc Đông Dương

Lần thứ hai vào ngày 6/ 5/ 1951, tại Sắc lệnh số 15/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký chuẩn y việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam (NHQG VN) (để thay thế “Nha ngân khố quốc gia” và “Nha tín dụng sản xuất” trực thuộc Bộ Tài Chính). Ngay khi ra đời, theo sắc lệnh số 19/SL và 20/SL ngày 12/5/1951, NHQG đã chính thức phát hành đồng tiền giấy mang tên: “NHQG Việt Nam” thay đồng tiền Tài chính. Đổi 10 đồng tiền Tài chính ăn 1 đồng tiền NHQG. Đây là một cuộc đổi tiền diễn ra tới 20 tháng, dài nhất trong lịch sử đổi tiền của NHVN.

Lần thứ ba, vì tiền NHQG đầu tiên được in ra năm 1951 là để đổi đồng Tài chính trước đó nên hầu hết những người có tiền đổi là thuộc khu vực công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên đến tháng 2 năm 1959 Chính Phủ quyết định phân phối lại thu nhập và đã đổi tiền lần thứ 2 với tỷ lệ 1 đồng NHQG mới ăn 1000 đồng NHQG cũ.

Với giá trị mới này, vào thời điểm từ tháng 2/1959 đến tháng 10/1960 một đồng NGQGVN bằng 1,36 Rúp Liên Xô và cũng tương đương 1,2 USD. Cuộc đổi tiền năm 1959 được đánh giá là “ngoạn mục” nhất trong lịch sử tiền tệ Việt Nam. Đến tháng 10/ 1961 đồng tiền NHQG VN ở miền Bắc được đổi tên thành đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam (NHNN VN) với cùng một mệnh giá để tránh trùng tên với đồng tiền NHQG ở miền Nam của chính phủ nguỵ quyền Sài Gòn.

Lần thứ tư, trong 3 năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng, để có một thời gian đệm cần thiết và quan trọng, hai miền vẫn dùng hai đồng tiền khác nhau: Miền Bắc vẫn là tiền NHNN Việt Nam, miền Nam tiếp tục dùng tiền của chính quyền cũ. Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản NHQG của Nguỵ quyền Sài Gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền tệ ở miền nam những ngày đầu giải phóng.

Ngày 6/6/1975 – 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT – 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là “Tiền Ngân hàng Việt Nam” (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500đ tiền của chế độ cũ và tương đương với 1 USD

Lần thứ năm, ngày 2/5/ 1978, Nhà nước CHXHCN Việt Nam công bố đổi tiền lần thứ 3 trên phạm vi toàn quốc, thống nhất tiền tệ cả nước với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới.

Và lần gần đây nhất, ngày 14/9/1985 Nhà nước lại phải công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới

Như vậy, kể từ đồng tiền giấy “Thông bảo hội sao” do nhà Hồ phát hành năm 1396 đến đồng tiền hiện đại Polymer, hơn 600 năm đã trôi qua với vô số những thăng trầm của đồng tiền giấy nhưng qua đó tiền giấy ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình.

Bởi hoana2007 từ: http://dantri.com.vn/su-kien/lich-su-hon-600-nam-cua-tien-giay-viet-nam-774102.htm

Bật mí ý nghĩa các tổ hợp phím tắt trên Windows 7

Tuy Windows 7 không còn là mới mẻ với người dùng Việt Nam, tuy nhiên đối với việc sử dụng các phím tắt thì không phải người dùng nào cũng thành thạo. Windows 7 có nhiều các tổ hợp phím tắt, trong đó các tổ hợp phím có sự góp mặt của phím Windows (phím hình lá cờ) không phải là ít… 

• Windows +    (mũi tên trái) / Windows +  (mũi tên phải)
Khi bấm các tổ hợp phím này các cửa sổ đang mở trên màn hình sẽ chuyển sang trái (hoặc phải) với kích thước bằng ½ kích thước màn hình. Khi bấm tiếp tổ hợp phím này một lần nữa (với phím mũi tên ngược chiều lúc trước) cửa sổ đó sẽ trở về với kích thước và vị trí ban đầu.

• Windows + (mũi tên lên) / Windows +  (mũi tên xuống)
Khi bấm các tổ hợp phím này các cửa sổ đang mở sẽ nhanh chóng phóng lớn (maximize) hoặc thu nhỏ (minimize) dưới thanh Taskbar.

• Windows + Shift +  (mũi tên trái) / Windows + Shift + (mũi tên phải)
Tổ hợp phím này chỉ có tác dụng khi bạn đang dùng đồng thời hai hoặc nhiều màn hình trên 1 máy. Tác dụng của tổ hợp phím này cho phép bạn chuyển cửa sổ từ vị trí màn hình hiện tại sang vị trí tương ứng sang màn hình thứ 2 mà không cần chuột để kéo sang.

• Windows + Spacebar (phím cách – phím dài nhất trên bàn phím)
Khi bạn bấm và giữ tổ hợp phím này thì tất cả các cửa sổ đang hiện hữu sẽ trở nên trong suốt và để lộ màn hình desktop.

• Windows + + (dấu cộng) / Windows + – (dấu trừ)
Cửa sổ Magnifier sẽ tự động mở ra sau đó sẽ tự biến thành chiếc kính lúp, đồng thời màn hình của bạn sẽ phóng to ( hoặc thu nhỏ).

• Windows + T
Chuyển qua lại giữa các cửa sổ ứng dụng trên thanh Taskbar kèm theo Thumbnail (hình ảnh thu nhỏ) của các ứng dụng đó.

• Windows + Số thứ tự
Tổ hợp phím này cho phép bạn mở các ứng dụng tương ứng với thứ tự của các icon ứng dụng đó trên thanh Taskbar (tính từ nút Start). Nếu bấm 2 lần thì ứng dụng sẽ thu nhỏ minimize và bấm thêm lần nữa ứng dụng sẽ được phóng lớn maxmizie.

Link gốc: http://xahoithongtin.com.vn/20130729125642531p0c252/bat-mi-y-nghia-cac-to-hop-phim-tat-tren-windows-7.htm